
Tôi chưa từng nghĩ nhiều về mối quan hệ của mình với thiên nhiên cho đến khi tôi chuyển đến một thành phố gần như không có công viên. Sau sáu tháng đi bộ giữa các tòa nhà bê tông, đi tàu điện ngầm và nhìn chằm chằm vào màn hình, tôi nhận thấy một điều. Giấc ngủ của tôi trở nên tồi tệ hơn. Tôi cảm thấy cáu kỉnh vô cớ. Khả năng tập trung của tôi giảm. Tôi không thể suy ngh nghĩ rõ ràng.
Một người bạn khuyên tôi nên ra ngồi trong một khu vườn thực vật trong một giờ. Tôi nghĩ điều đó nghe có vẻ lố bịch, nhưng tôi đã thử. Và một điều gì đó đã thay đổi. Không phải là sự thay đổi lớn lao. Không giống như một sự giác ngộ tâm linh. Nhưng vai tôi thư giãn. Nhịp thở của tôi chậm lại. Tôi ngủ ngon hơn vào đêm đó.
Kinh nghiệm đó đã khiến tôi tìm hiểu thêm. Tôi muốn biết điều gì thực sự xả xảy ra bên trong cơ thể và não bộ của tôi khi tôi dành thời gian ở gần cây cối, đất và sự yên tĩnh. Những gì tôi tìm thấy đã thay đổi cách tôi suy ngh nghĩ về thế giới hiện đại. Nghiên cứu chi tiết hơn những gì tôi mong đợi.
Mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên
Nhà sinh vật học E.O. Wilson đã phổ biến một khái niệm vào những năm 1980 gọi là giả thuyết sinh cảnh. Ý tưởng này rất đơn giản. Con người đã tiến hó hóa trong môi trường tự nhiên trong phần lớn lịch sử tồn tại của chúng ta. Não bộ và cơ thể chúng ta đã hình thành để thích ứng với cây cối, động vật, vật, thời tiết và cảnh quan. Wilson lập luận rằng chúng ta mang trong mình một sự gắn kết bẩm sinh với các sinh vật sống, được “mã hóa” qua hàng triệu triệu năm tiến hóa.
Đây không phải là một tuyên bố mang tính tâm linh. Đó là một tuyên bố về sự sự tiến hóa. Tổ tiên của chúng ta sống sót tốt hơn những người quan sát đượ được các mô hình tự nhiên so với những người không. Đọc bầu trời để dự báo bão, nhận biết vết chân động vật, biết những loại cây nào ăn được. Những kỹ kỹ năng đó giúp mọi người sống sót. Các phần của não bộ xử lý những nhiệm vụ đó đã được cải thiện qua nhiều thế hệ.
Sau đó là nông nghiệp. Rồi các thành phố. Rồi công nghiệp. Rồi điện thoại thông minh. Theo thời gian tiến hóa, sự thay đổi diễn ra rất nhanh. Bây giờ giờ chúng ta dành khoảng 90% thời gian ở trong nhà, theo Cơ quan Bảo vệ Môi Môi trường Hoa Kỳ. Môi trường mà não bộ chúng ta tiến hóa và môi trường mà chúng ta thực sự sống không còn tương đồng.
Những gì khoa học thực tế nói
Tôi đã dành nhiều thời gian đọc các nghiên cứu về thiên nhiên và sức khỏe. Ba dòng nghiên cứu nổi bật với tôi.
Nghiên cứu về đi bộ trong thiên nhiên của Stanford. Năm 2015, các nhà nghiên cứu tại Stanford, do Gregory Bratman dẫn đầu, đã đưa hai nhóm người tham gia đi bộ chín mươi phút. Một nhóm đi bộ dọc theo một con đường cao tố tốc đông đúc ở Palo Alto. Nhóm còn lại đi bộ trong một khu vực tự nhiên gần gần đó với rừng cây sồi và đồng cỏ. Trước và sau khi đi bộ, cả hai nhóm đều đều thực hiện đánh giá về tâm trạng và quét não. Những người đi bộ trong thiên nhiên cho thấy hoạt động giảm trong vỏ não trước trán dưới, một vùng não liên quan đến sự ám ảnh, đó là kiểu suy nghĩ tiêu cực lặp đi lặp lại th thường đi kèm với trầm cảm. Những người đi bộ trên đường cao tốc không có sự thay đổi nào. Đây là loại nghiên cứu mà tôi thường xuyên tham khảo vì nó nó được kiểm soát và đo lường được. Đó không phải là một cuộc khảo sát. Đó là sự thay đổi trong mô não do một người nhìn thấy.
Lý thuyết phục hồi sự chú ý. Các nhà tâm lý học Rachel và Stephen Kaplan đã phát triển khuôn khổ này từ những năm 1980. Lập luận của họ rất đơn giản. Sự chú ý tập trung, loại bạn sử dụng để tập trung vào bảng tính hoặc cuộc trò chuyện trong một căn phòng ồn ào, là một nguồn tài nguyên hạn hạn chế. Nó cạn kiệt theo thời gian. Môi trường tự nhiên, theo họ, kích thí thích một loại chú ý khác, một loại không đòi hỏi nỗ lực. Bạn không cần phả phải cố gắng nhìn một cái cây hoặc lắng nghe tiếng chim hót. Điều này cho phép hệ thống chú ý tập trung của bạn được nghỉ ngơi và phục hồi. Tôi nghĩ về điều này mỗi khi tôi cảm thấy mất tập trung trong ngày.
Mang thiên nhiên vào nhà. Cây cảnh, hoa tươi, cửa sổ mở. Những lựa chọn chọn nhỏ này thay đổi môi trường cảm giác của ngôi nhà của bạn. Một số nghi nghiên cứu cho thấy ngay cả việc nhìn thấy hình ảnh của thiên nhiên cũng có có thể tạo ra những lợi ích có thể đo lường được, mặc dù ít hơn so với trải trải nghiệm thực tế.
Tìm một địa điểm quen thuộc. Nghiên cứu về sự nhất quán rất mạnh. Một khoảng thời gian ngắn tiếp xúc hàng ngày với thiên nhiên tốt hơn một khoảng khoảng thời gian dài hơn một tháng. Tôi có một chiếc ghế dài trong một công công viên nhỏ gần căn hộ của tôi, nơi tôi ngồi trong mười phút mỗi buổi sán sáng. Nó không phải là điều gì đó quá lớn. Nhưng theo thời gian, tôi nhận thấy sự khác biệt.
Kết hợp thiên nhiên với vận động thể chất. Đi bộ, chạy bộ hoặc đi xe đạ đạp ngoài trời có tác dụng kết hợp. Bạn nhận được lợi ích của việc tập thể dục và tiếp xúc với thiên nhiên đồng thời. Đây là nguyên tắc tương tự đằng sau lý do những thói quen nhỏ có th thể biến đổi thói quen của bạn hơn những thay đổi lớn và tham vọng.
Câu hỏi thường gặp
Tôi cần dành bao nhiêu thời gian trong thiên nhiên để thấy kết quả? Nghiên cứu cho thấy rằng khoảng hai mươi phút trong một môi trường tự nhiên nhiên, với sự chú ý đến môi trường, là đủ để giảm đáng kể mức cortisol. Thờ Thời gian tiếp xúc dài hơn tạo ra hiệu ứng lớn hơn, nhưng mười lăm đến hai mươi phút là một mục tiêu tốt.
Nó có cần phải là vùng hoang dã không? Không. Các công viên đô thị, khu vườn cộng đồng, đường phố có cây và thậm chí cả sân sau đều mang lại lợi ích có thể đo lường được. Điều quan trọng là sự hiện diện của các sinh vật sống và sự vắng mặt của các nhiệm vụ nhận thức đòi hỏi.
Việc xem hình ảnh của thiên nhiên có thể giúp ích không? Một số nghiên cứu cho thấy rằng việc xem hình ảnh của thiên nhiên có thể là làm giảm căng thẳng so với việc xem các cảnh quan đô thị, nhưng tác dụng nh nhỏ hơn và ngắn hơn so với trải nghiệm thực tế. Thiên nhiên ảo tốt hơn là không có gì, nhưng nó không thay thế cho trải nghiệm thực tế.
Sự khác biệt giữa đi bộ trong thiên nhiên và tập thể dục thông thường là gì? Cả hai đều có lợi, nhưng chúng hoạt động thông qua các cơ chế khác nhau. Tậ Tập thể dục chủ yếu cải thiện sức khỏe tim mạch và tâm trạng thông qua việc việc giải phóng endorphin. Tiếp xúc với thiên nhiên làm giảm mức hormone că căng thẳng và khôi phục sự chú ý thông qua sự thay đổi cảm giác. Kết hợp cả cả hai là lý tưởng.
Liệu hội chứng thiếu thiên nhiên có phải là một chẩn đoán thực sự không? không?* Nó không được công nhận là một tình trạng lâm sàng theo DSM. Richard Louv đã tạo ra thuật ngữ này để mô tả những hậu quả quan sát được của việc giảm tiếp xúc với thiên nhiên, đặc biệt là ở trẻ em. Nghiên cứu hỗ trợ khái niệm niệm này ngay cả khi nó không phải là một chẩn đoán chính thức.
Con đường phía trước
Tôi không tranh luận rằng mọi người nên chuyển đến vùng nông thôn. Hầu hết chúng ta không thể hoặc không muốn làm như vậy. Nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta đánh giá thấp mức độ môi trường ảnh hưởng đến trạng thái tinh thần của mình. Chúng ta chi tiền cho thực phẩm bổ sung, liệu pháp, ứng dụng thiền và và công cụ năng suất, trong khi bỏ qua biện pháp can thiệp dễ tiếp cận nhất nhất.
Thế giới tự nhiên không cần đăng ký. Nó không cần pin. Nó đã ở đây từ trước trước.
Những thách thức mà hành tinh của chúng ta phải đối mặt, từ biến đổi khí hậ hậu đến mất đa dạng sinh học, là có thật. Nhưng tôi thấy khó để quan tâm đế đến điều gì đó mà tôi chưa từng trải nghiệm. Những người bảo vệ thiên nhiên nhiên thường là những người dành thời gian ở trong đó. Điều đó hoạt động theo cả hai chiều. Chúng ta cần thiên nhiên để khỏe mạnh, và thiên nhiên cầ cần chúng ta chú ý.
Hãy ra ngoài hôm nay. Ngay cả trong năm phút. Thế giới tự nhiên vẫn ở đó, chờ đợi bạn để nhận ra nó một lần nữa.